fbpx
Khách sạn giá rẻ ở huế EMT Homestay

Phan Bội Châu danh nhân đổi mới đầu thế kỷ XX

Phan Bội Châu, danh nhân văn hóa
Th804

Phan Bội Châu danh nhân đổi mới đầu thế kỷ XX

Lịch sử Huế, Tin Tức, Văn hóa no responses

Phan Bội Châu ra đời 26/12/1867 tại Đan Nhiễm, Nam Hòa, Nam Đàn, Nghệ An. Mẹ ông là Nguyễn Thị Nhàn, cha là Nguyễn Thị Nhàn. Từ nhỏ Phan Bội Châu đã nổi tiếng thông minh, Lúc 6 tuổi chỉ trong vòng 3 ngày đã thuộc hết Tam Tự Kinh, đọc hiểu sách Luận Ngữ lúc 7 tuổi, thi đỗ đầu huyện lúc 13 tuổi. Lòng yêu nước đã có sẵn trong người ông. Lúc cụ Phan 17 tuổi, ông đã sáng tác bài “Hịch Bình Tây Thu Bắc” treo ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi nghĩa kháng Pháp. Vào năm 1885 lúc ấy ông 19 tuổi. Ông cùng Trần Văn Lương thành lập đội “Sĩ tử Cần Vương” (hơn 60 người). Nhưng bị quân Pháp khủng bố nên phải giải tán.

Phan Bội Châu, danh nhân văn hóa
Phan Bội Châu

Đổi mới trên con đường cách mạng của Phan Bội Châu

Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, phương Đông đầy sức quyến rũ. Đã thực sự trở thành đích hướng tới không gì cản được của thế giới tư bản phương Tây. Đông Nam châu Á đâu còn là vùng đất trung tâm riêng của Thiên triều Trung Hoa. Cái thời kỳ lặng lẻ, chỉ biết một mình của châu Á đã qua rồi. Sau chiến tranh nha phiến, các thương thuyền của tư bản châu Âu (sau đó là châu Mỹ). Càng giương buồm, chĩa mũi dồn về đấy, đua nhau mở mang thế lực ở Trung Hoa. Xâm chiếm các nước châu Á như Việt Nam. Trong lúc người da trắng đang làm mưa làm gió như thế. Thì Nhật Bản là nước đồng chủng, đồng văn gần gũi với Việt Nam đã canh tân, vươn lên tranh cường. Tiên phong đánh thắng một nước đầu tiên của tư bản Tây Âu là Nga. Một luồng gió mới duy tân đang thổi vào châu Á. Đem theo những trang sách, những tấm gương lừng lẫy của các danh nhân như Louis Kossuth của Hungari, Jean Jacques Rousseau của Pháp, Cát Điền Tùng Âm, Phúc Tạch Dụ Cát… của Nhật Bản. Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu của Trung Hoa…. Một thế giới đang thực sự đổi mới như thế ắt phải cần đến những con người đổi mới. Phan Bội Châu là một trong những con người đổi mới xứng đáng ở Việt Nam. Bởi Cụ là “Vị anh hùng, bậc thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” như lời ca ngợi nhiệt liệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phan Bội Châu lớn lên giữa những phòng trào Cần Vương

Phan Bội Châu và phong trào Cần Vương
Phong trào Cần Vương

Phong trào Cần vương với Phan Đình Phùng bắn những phát đạn cuối cùng. Hoàng Hoa Thám trở thành mãnh hổ rừng xanh. Ngay trên quê hương của Cụ, đất Sào Nam, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Còn đâu nữa tiếng trống bình Tây dồn dập của Trần Tấn, Đặng Như Mai. Đã vắng rồi bóng cờ diệt Pháp của Trần Xuân, Vương Thúc Mậu trên đỉnh Rú Chung. Cũng hết cả việc ba thôn Nộn Liễu gần nhà Cụ Phan “đọ sức” với Pháp trên cầu Phù Long. Bởi phong trào Cần Vương với vua Hàm Nghi chỉ còn là hình ảnh trong lòng dân. Trong đó, có một số ít tản mác vào rừng xanh núi đỏ gọi là “lục lâm” quan hệ một cách công khai với Cụ Phan… Cho nên, thực dân Pháp ở Việt Nam có thể rảnh tay đi vào giai đoạn bắt đầu ổn định và khai thác thuộc địa lần thứ nhất…. Rõ ràng, muốn thắng Pháp một nước tân tiến ở phương Tây, có vũ khí hiện đại. Thì không thể đi theo đường cũ, phải đổi mới.

Phan Bội Châu thành lập phong trào Duy Tân

Để thắng Pháp, một trong những đổi mới hồi ấy là phải thành lập một đảng cách mạng theo xu hướng mới. Với hoàn cảnh giới hạn Việt Nam và châu Á lúc này. Duy Tân Đông du là xu hướng mới nhất, đúng như Phan Bội Châu đặt cái tên Hội. Chữ “Duy” trong “Duy tân” gồm sợi dây ở bốn góc cái lưới, chỉ sự liên kết nhau. Tân là mới. “Duy tân” chỉ sự đổi mới một cách có hệ thống, liên hệ nhau. Năm 1904, Phan Bội Châu và độ 20 đồng chí hội nghị ở nhà ông Tiểu La, lập Hội Duy tân. Bầu Cường Để, hậu duệ đích tôn Hoàng tử Cảnh làm Hội trưởng. Cũng trong hội nghị này, Cụ Phan được cử xuất dương, cầu viện Nhật. Gọi là Hội nhưng thực chất là Đảng. Cái tên “Duy tân” của Đảng với toàn bộ ý nghĩa ấy, gắn với thời điểm sớm sủa (năm 1904). Với việc lãnh tụ Đảng là Phan Bội Châu vượt khỏi vòng kiềm tỏa của một đất nước từng là phong kiến bế quan tỏa cảng để tới một đất nước duy tân Minh Trị. Chứng tỏ, đây là một Đảng đầu tiên của Việt Nam ở thế kỷ này đi theo xu hướng mới. Thực hiện bước đầu những mơ ước mà các nhà canh tân nổi tiếng triều Nguyễn như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ còn đề cập trên giấy tờ.

Đường lối phong trào Duy Tân

Để thắng Pháp còn phải thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất. Trong tác phẩm Hải ngoại huyết thư gửi thư về nước thời Đông du. Phan Bội Châu đã đưa ra mô hình của mặt trận này với sự đồng lòng của mười giới đồng bào gồm: phú hào, quý tộc, sĩ phu, lính tập, giáo đồ, du đồ, hội đảng, thông ngôn, ký lục, bồi bếp, con em có mối thù nhà, và sự đồng lòng của người trong ngoài nước ta.

Lính tập Phan Bội Châu
Lính Pháp và lính tập

Tất cả các cuộc vùng dậy giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm ở nước ta. Để đạt tới thắng lợi không thể không là một sự nghiệp chung. Nhưng có ý thức, đề ra mô hình mặt trận, sắp xếp lực lượng trên văn bản “Cương lĩnh cứu nước” thì Phan Bội Châu là người đầu tiên ở Việt Nam. Đó cũng là một cái mới nổi bật nữa. Trong mặt trận này có cả người giàu (như phú hào, quý tộc) lẫn người nghèo, cả quan lại, trí thức, cả những người làm công ăn lương cho giặc (như thông ngôn, ký lục, bồi bếp), cả lực lượng vũ trang trong hàng ngũ giặc (như lính tập).

Tư duy đại đoàn kết dân tộc của Phan Bội Châu

Cụ Phan là người Việt đầu tiên ở thế kỷ này trên văn bản đặc biệt đề cao phụ nữ và tín đồ đạo Thiên Chúa. Đưa các tầng lớp này lên thành một giới đồng bào riêng quan trọng trong mật trận. So với các triều đại phong kiến trọng nam khinh nữ. So với triều Nguyễn bình Tây sát tả, đàn áp công giáo. Không phân rõ bạn thù trong hàng ngũ công giáo. Trong lúc nước ta đang cần đoàn kết lương giáo chông giặc ngoài, thì đây là một bước tiến quan trọng. Đó là kinh nghiệm, là sự khởi đầu tốt đẹp chính sách đoàn kết lương giáo. Nam nữ bình quyền, đề cao chính đáng người phụ nữ mà Mặt trận Tổ quốc, Đảng và Nhà nước. Việt Nam sau này đã phát huy, biến thành hiện thực, đi tới thành công tốt đẹp hơn. Sự thực ngay từ hồi ấy, chính sách về phụ nữ. Về đoàn kết lương giáo của Cụ Phan đã có những thành tích bước đầu. Như việc giới phụ nữ có nhiều người nô nức đi theo Cụ Phan ủng hộ người, của. Có người như bà Lê Thị Đàn đã để lại tấm gương hy sinh tiết liệt…. Có hàng loạt xứ đạo, nhiều linh mục đi theo phong trào của Cụ. Có linh mục hy sinh oanh liệt trong nhà tù của địch (như Nguyễn Thận Đồng).

Phan Bội Châu, giai cấp công nông
Giai cấp công nông đầu thế kỷ XX

Có người trở thành yếu nhân của phong trào (như cụ Mai Lão Bạng). Trong mười giới đồng bào, Cụ Phan chưa nhắc đến công nông, đến các đồng bào miền núi. Nhưng hẳn là ở giới thứ mười: sự đồng lòng của người trong ngoài nước ta, trong đó đã có công nông, có các dân tộc miền núi, tuy chưa cụ thể. Phan Bội Châu chưa đề công nông lên thành một giới đồng bào riêng biệt mà hòa tan vào đó. Bởi ở những năm đầu thế kỷ XX, công nhân Việt Nam chưa thể hình thành một lực lượng sau này. Bởi giai cấp nông dân Việt Nam tuy chiếm số lượng rất lớn, các dân tộc miền núi. Hiếm một địa bàn rất quan trọng nhưng ở một nước phương Đông như Việt Nam các lực lượng đó bị hạn chế. Trong tình hình dân trí Việt Nam chưa nâng cao. Sau này, ở tác phẩm viết về Phạm Hồng Phái cụ đã thấy rõ hơn vai trò của công nông. Thấy việc cần đi vào hầm mỏ, xưởng máy vận động công nông làm cách mạng. Ở vài tác phẩm khác (Việt Nam quốc sử khảo). Cụ đã thấy rõ hơn vai trò của các dân tộc miền núi, yêu cầu lập căn cứ địa ở miền núi.

Mặt trận đoàn kết quốc tế

Mở rộng ra, Phan Bội Châu còn tính đến việc thành lập mặt trận đoàn kết quốc tế. Khi ở Nhật Bản, Cụ từng kết giao với các lãnh tụ cách mạng Trung Hoa. (Như Hoàng Khắc Cương, Chương Thái Viêm, Trương Kế). Với các chí sĩ nước Triều Tiên như Triệu Tố Ngang người từng gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở châu Mỹ. Và với các vị người Nhật Bản, Ân Độ, Phi Luật Tân tổ chức ra Hội “Đông Á đồng minh” . Sau cách mạng Tân Hợi (1911), Cụ thành lập hội “Chấn Hoa hưng Á” với mục đích nâng cao địa vị Trung Hoa. Giúp cách mạng Việt Nam và viết “Liên Á sô ngôn”. (Lời kêu gọi mộc mác về việc liên hợp châu Á). Đó là những mặt trận đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế đầu tiên ở nước ta thể hiện trên văn bản. Hoạt động trên thực tế và Cụ Phan là một sáng lập viên lỗi lạc.

Tư duy bạo động cách mạng Phương Tây ảnh hưởng đến phong trào

Sinh ra ở một vùng đất có truyền thông anh hùng, vùng đất từng sục sôi trong phong trào cần vương. Trong bản thân mang cái “dũng” của người quân tử Nho. Cái “hùng” của “hiệp sĩ đạo” lại chịu ảnh hưởng của các nhân vật bạo động ở phương Tây. Với câu ngạn ngữ: “Không đem máu rửa máu thì không cải tạo được xã hội”. Do vậy, xu hướng cơ bản nhất của Phan Bội Châu là xu hướng bạo động. (Nhất là giai đoạn hoạt động cách mạng đầu tiên, xu hướng này đã được Cụ Phan thể hiện rõ nhất). Cụ tính đến chuyện thành lập quân đội trong ba kế hoạch lớn vạch ra trước khi xuất dương. Phan Bội Châu nói đến “dư đảng Cần Vương”. “Những tay tráng kiệt ở sơn lâm”. Trong “mười giới đồng bào”, Cụ nói đến “lính tập”. Đó là hai lực lượng quân đội quan trọng ban đầu. Ngoài ra là những người tham gia phong trào Đông du. Được đào tạo ở các trường quân sự Nhật Bản, Trung Hoa. Được biên chế, tổ chức thẹo kỹ thuật tiên tiến là lực lượng quân sự được Cụ dự kiến đâu tiên ở thế kỷ này. Sau này, trong tác phẩm Việt Nam Quang phục quân phương lược. Cụ đã nói cụ thể về tôn chỉ, nghĩa vụ, kỷ luật, binh chế, chức viên, lương bổng của lực lượng đó. Một mô hình qụân đội theo kiểu mới ngay từ đầu thế kỷ này đã được Phan Bội Châu và Hoàng Trọng Mậu. Bạn chiến đấu, người học trò thân tín của Cụ phác vẽ.

Phan Bội Châu, Đông Du
Những nhân vật tiêu biểu của Vĩnh Long tham gia Phong trào Đông Du.

Một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi triệt để. Bên cạnh những yếu tố, phải có “Tam tháp bảo” (ba yếu tố cơ bản: chính đảng, mặt trận, quân đội). Dù cuộc vận động cách mạng do Phan Bội Châu lãnh đạo chưa đi đến thành công là do nhiều nguyên nhân. Nhưng để tiến hành sự nghiệp đó, thì ba yếu tố cơ bản trên đã thể hiện đầy đủ trong tác phẩm và việc làm của Cụ. Đó chính là những bài học, gợi mở ban đầu quý báu để hậu thế đi tới thắng lợi toàn vẹn, triệt để.

Để dốc sức đi đến thắng lợi, Phan Bội Châu đã phải có những điều chỉnh, đổi mới đường lối cho phù hợp với thời đại mới. Lúc đầu Cụ từng vạch ra ba kế hoạch lớn:
1. Liên kết với dư đảng cần vương và những tay tráng kiệt ở sơn lâm xướng khởi nghĩa binh, mục đích là đánh giặc phục thù mà thủ đoạn là bạo động
2. Tìm người hoàng thân lập thành minh chủ
3. Phái người xuất dương cầu viện.

Mục đích là cốt sao khôi phục được nước Việt Nam. Lập ra một chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì. Ba kế hoạch này gộp lại cho ta thấy Cụ Phan yêu cầu lập nên một nước quân chủ lập hiến. Điều đó không có nghĩa là Cụ không thấy rõ cái hay cái đẹp của chính thể dân chủ cộng hòa. Cuộc gặp gỡ giữa Cụ và Tôn Trung Sơn hai lần ở khách sạn Trí Hòa Đường. Cuộc tranh luận với Phan Châu Trinh cho thấy Cụ rất tán thành chế độ dân chủ cộng hòa. Nhưng Cụ cho rằng hoàn cảnh Việt Nam lúc này chưa thể thực hiện ngay chế độ đó được. Lúc này, Việt Nam vừa mới là một nước phong kiến, bước sang một nước thuộc địa nửa phong kiến. Phan Bội Châu muốn hướng nước ta theo con đường Duy tân của Nhật Bản một nước quân chủ lập hiến. Chủ trương của Cụ là vũ trang bạo động mà trong lực lượng vũ trang có dư đảng Cần vương. Những người đi theo Cụ hồi ấy nhiều người là quan trường. Đặc biệt có nhiều nhân sĩ là người Nam Kỳ – vùng đất dấy nghiệp của nhà Nguyễn. Cho nên, việc Cụ theo xu hướng quân chủ lập hiến là thỏa đáng. Nó gần với tầm các nước tư bản Anh – Nhật. So với chế độ chuyên chế phong kiến từ nhà Nguyễn trở về trước. Quân chủ lập hiến là một bước tiến quan trọng. (Vả chăng, quân chủ lập hiến, cũng đã gần tới phạm trù “dân chủ tư sản”).

Phan Bội Châu, bia tưởng niệm
Bia tưởng niệm của phong trào Đông Du

Nước Nhật bội ước, phong trào Duy Tân tan rã

Nhưng từ năm 1909 trở đi, Nhật – Pháp ký hiệp ước với nhau. Đảng cách mạng Việt Nam bị trục xuất, hai người trọng yếu là Phan Bội Châu và Cường Để phải rời khỏi Nhật. Phan Bội Châu và các đồng chí ngày càng nhận rõ dã tâm của bọn quân phiệt Nhật. Thấy cái nghĩa phù nguy cứu tệ của luân lý bang giao cổ Á Đông không còn nữa. Nên Cụ chuyển hướng về Cách mạng Trung Hoa và các dân tộc trên thế giới đồng bệnh với ta. Đặc biệt càng ngày Cụ càng thấy rõ “Mãn triều Trung Quốc và Nguyễn triều Việt Nam cũng là một phường chó chết như nhau mà thôi”. Nhất là cách mạng Tân Hợi (1911), Trung Quốc lật đổ nền quân chủ Mãn Thanh. Thành lập Chính phủ dân quốc Nam Kinh làm bừng tỉnh mọi người. Cho nên, Phan Bội Châu từ nước Xiêm trở về Quảng Đông (Trung Quốc). Cụ có thể công khai khẳng định việc xóa bỏ chủ nghĩa quân chủ để theo hẳn chủ nghĩa dân chủ. Chủ nghĩa mà từ lâu mình thấy là hay là đúng. Năm 1912, Phan Bội Châu cùng các đồng chí thủ tiêu Hội Duy tân, thành lập Hội Việt Nam Quang phục. Với “Tôn chỉ dụy nhất của Hội là đánh đuổi giặc Pháp. Khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước cộng hòa dân quốc Việt Nam”. Trong khi ở nước ta, các cuộc bạo động không đi tới đâu, thất bại liên tiếp. (Như việc quân Hoàng Hoa Thám tan rã, Hà Thành đầu độc bị đàn áp, khởi nghĩa Thái Nguyên thất bại). Cho nên, khẩu hiệu “Pháp – Việt đề huề” do Toàn quyền Albert Sarraut đưa ra. Mới dễ được Cụ Phan chấp nhận vào năm 1918. Cụ cũng muốn tương kế tựu kế lợi dụng thời cơ này để hoạt động trong nước. Năm 1920, Phan Bội Châu có viết hai quyển sách gửi về trong nước: quyển Y hồn đơn (Đơn thuốc chữa hồn) tán thành chủ trương bất bạo động của Găng-đi và quyển Dư cửu niên lai sở trì chủ nghĩa (Chủ nghĩa tôi ôm ấp 9 năm nay) chủ trương làm “văn minh cách mạng” mà không làm “dã man cách mạng”.

Qua đó, ta thấy về mục đích đuổi giặc xâm lược, giành độc lập, đem lại hạnh phúc cho dân, cho nước thì từ trước tới sau Phan Bội Châu vẫn thống nhất. Nhưng về chủ nghĩa, phương pháp, kế hoạch làm cách mạng của Cụ có nhiều thay đổi. Chính Phan Bội Châu cũng tự nhận, cho đó là một ưu điểm của mình: “Trong đời làm việc gì, cốt để ý đến mục đích, mong được thắng lợỉ ở phút cuối cùng, còn về thủ đoạn, phương châm tuy thay đổi cũng không tiếc”. Điều này cũng xuất phát từ nhận thức của Phan Bội Châu một nhà Nho từng chú giải và tinh thông Kinh Dịch. Vậy nên, Cụ hiểu lẽ “biên dịch của trời đất và lẽ “bất biến dịch” sao cho khớp với “thì”. Tức là tùy thời đại mà đổi mới sao cho thích hợp. Trong Dịch có “biến dịch” như việc thay đổi thủ đoạn, phương châm, đồng thời có “bất biến dịch” như mục đích thống nhất từ đầu đến cuối. Cũng như con người phải có Kình (cứng, tương đối ổn định), có “Quyền” (mềm dẻo, linh hoạt hơn). Nguyễn Du viết: ”Có khi biến cố khi thường” tùy nghi theo thời mà ứng xử. Chính vì vậy nên nhà Nho Phan Bội Châu không bảo thủ, cố chấp, không vì danh dự tư riêng. Một quyền lợi gì mà cố níu lấy những hội đảng, những chủ nghĩa đã lỗi thời. Tất cả những cái đó chỉ là thủ đoạn, phương châm, phải đặt dưới quyền lợi của dân tộc. Phục vụ cho mục đích đuổi xâm lược, giành độc lập, đem lại hạnh phúc cho nhân dân.

Phan Bội Châu Hỏa Lò
Phan Bội Châu bị giam ở Hỏa Lò

Cho nên, nó luôn luôn đi đúng với quỹ đạo thời đại, phù hợp với dân tộc. Tức là luôn luôn mới mẻ với thời đại, với dân tộc. Xuất phát từ tư tưởng linh hoạt đó của phương Đông. Lại gặp những tư tưởng tiên tiến mới mẻ ở châu Âu và sẵn có lòng yêu nước nồng nàn, một ý chí diệt thù rất mãnh liệt. Cho nên, Phan Bội Châu sẵn sàng và rất bền bỉ tiếp nhận, chọn lọc bất kỳ ý kiến nào có thể giúp cho công cuộc giải phóng dân tộc mà mình theo đuổi. Cụ Phan linh hoạt: dùng phương pháp này không xong thì lo tìm phương pháp khác, hỏng cuộc này lo cuộc khác, kỳ cho đến khi tìm ra con đường tương lai đúng đắn. Lúc Phan Bội Châu bị bắt năm 1925 chính là lúc Cụ đang đi trên con đường từ Hàng Châu về Quảng Đông. Để gặp các nhà cách mạng Việt Nam, họp bàn nhằm cải tổ lại Đảng theo hướng mới. Con người yêu nước chân chính Phan Bội Châu là người luôn luôn đổi mới. Nếu Cụ không bị Pháp bắt ắt phải đi vào con đường mới đúng đắn mà lịch sử đã dành cho dân tộc ta. Năm 1925, lúc bị Pháp giam lỏng ở Hỏa Lò. Cụ đã dự cảm rất đúng trong lời Tự viếng. “Hý cuộc trước đã sắp tàn, vũ đài sau chính đương sáp dựng, thúc người sôi sục, gió Ầu mưa Á tám phương dồn”.

II – Đổi mới văn học của Phan Bội Châu

Qua bộ Phan Bội Châu toàn tập gồm trên 6.000 trang in, được công bố năm 1990. Cho thấy gia tài văn học của Phan Bội Châu thật đồ sộ. Càng nghiên cứu, ta càng cảm thấy Cụ quả xứng với lời nhận xét của cô’ Giáo sư Đặng Thai Mai: “Có lẽ từ xưa tới nay trong văn học Việt Nam chưa có nhà văn nào chịu khó và có gan đem ngòi bút ra thử thách trên nhiều loại văn khác nhau như Sào Nam”. Đây là một điểm mới, đáng chú ý trên văn đàn Việt Nam thời cận đại.

Tác phẩm của Phan Bội Châu thuộc dòng văn thơ yêu nước của Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu. Hơn nữa Cụ là người sáng lập nền văn học yêu nước cách mạng ở thế kỷ XX bắt đầu theo xu hướng mới.

Ngay từ hồi trẻ, mới xuất hiện trên văn đàn, Phan Bội Châu đã tỏ ra mới lạ. Đó là một “thần đồng” văn chương, nổi tiếng hay chữ. Hay chữ thuở ấy là thông thạo thơ phú, giỏi chạm sâu, nhớ nhiều điển tích. Đúng như dân gian Nghệ An đã suy tôn Cụ hồi trẻ là một trong Nam Đàn tứ hổ’. “Uyên bác bất như San” (Kiến thức sâu rộng không ai bằng Phan Văn San – San là tên tuổi hồi nhỏ của Phan Bội Châu). Đó là cơ sở để Cụ tinh thông văn chương cử tử, đỗ đầu xứ Nghệ 3, 4 lần, đồ Giải nguyên (đầu thi Hương). Thuở đó cái khẩu khí của người anh hùng dám và trời lấp biển ở Cụ. Khi chơi đùa hát xướng và cũng thể hiện ở những tác phẩm văn học thành văn của Cụ. Với việc học tập thi cử, Phan Bội Châu đã có những nhận xét khác những bạn cùng lứa tuổi. Trong đó, cũng thể hiện quan niệm văn học của Cụ. thấy đời còn ham chuộng danh vọng nên Phan Bội Châu buộc phải học tập để thi cử. Nhưng học mà Cụ vẫn thấy rõ là: một nước đã mất chủ quyền tự chủ thì theo đòi văn chương cũng chỉ là danh vọng hão huyền. Cụ dẫn câu của Tùy Viên để bày tỏ lòng mình: .

“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,

Lập thân tối hạ thị văn chương”

(Khuya sớm những mong ghi sử sách,

Lập thân hèn nhất ấy văn chương)

Nên khi đậu Giải nguyên, Cụ viết lời tự bộc lộ tâm sự. không muốn mình lẫn trong đám người tầm thường:

“Bất như ỷ thường hát cửu sự, sầu sinh liêm ngoại Tây phong, Hỗn thiết xuy ư tam bách nhân, quý tử môn tiền Nam Quách”

(Không như ý thường tám, chín việc, ngoài rèm căm tức ngọn gió Tây. Thổi sáo lẫn trong ba trăm người, ngoài cửa thẹn thùng chàng Nam Quách).

Vượt ra ngoài sự tầm thường đó, với bản tính “trời phú”. Nói như Phan Bội Châu trong Ngục trung thư: “Tôi được trời phú cho máu nóng không vừa, ngay từ hồi còn là thằng trẻ con đọc sách của cha ông để lại, mỗi khi đọc tới chuyện người xưa hăng hái thành nhân tựu nghĩa, tôi thường nhỏ nước mắt ròng ròng, thấm ướt cả sách”. Cụ lại có tác phong quyền biến, linh hoạt nên đã thoát được nhiều khuôn sáo nặng nề của văn chương cử tử để đi vào lòng người một cách tự nhiên. Nhờ vậy, “văn chương của Cụ Phan có sức dựng người dậy”, “gọi tỉnh hồn quốc dân”.

“Mõ chuông là cái lưỡi đây,

Lôi đình trên ngọn bút này nổi lên”.

“Lôi đình trên ngọn bút” là phong khí, là thực chất thơ văn của Phan Bội Châu. Mà trên văn đàn Việt Nam hiếm người có được như Cụ. Nó rất phù hợp với những áng văn để tuyên truyền chính trị, gây xúc động đồng bào. Ở giai đoạn Đông du và Đông Kinh nghĩa thục cần “chấn hưng dân khí, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài”. Thì đó là những áng văn gây chấn động lòng người, tràn đầy khí thế nhất. Lúc này, trong “ngọn bút lôi đình” càng nổi bật lên giọng văn bi hùng. Âm hưởng bi hùng nổi bật lên từ những tiêu đề thấm máu và nước mắt, đầy sức cuốn hút: Lưu cầu huyết lệ tân thư, Hải ngoại huyết thư, Ai cáo toàn quổc phụ lão v.v..,

Phan Bội Châu
Ngục trung thư (Thư viết trong ngục) được viết tại nhà tù Quảng Đông

Với Phan Bội Châu, văn chương tỏ rõ sức bi hùng, được viết thành công nhất ở hai thể thơ quốc âmphú. Đến nay, trong thời đại đổi mới, đọc lại những vần thơ lục bát, song thất lục bát của Phan Bội Châu viết:

                        “Thương ôi Bách Việt gian san.
Văn minh có sẵn khôn ngoan có thừa.
Hồn mê mẩn tỉnh chưa chưa tỉnh.
Anh em ơi phải tính sao đây”.

hay:                 “Cũng có lúc bầm gan tím ruột.

                        Vạch trời cao mà tuốt gươm ra”

Ta vẫn thấy sôi sục tấm lòng. Sự quen thuộc, âm điệu, vần điệu đặc trưng của thể thơ này. Cũng góp phần phổ cập, tạo nên sức mạnh tình cảm của Phan Bội Châu trong dân tộc. Như bài thơ Ai cáo toàn quốc phụ lão…. Do Phan Bội Châu sáng tác và tự dịch:

“Than ôi Lục tỉnh Nam Kỳ,

Nghìn năm cơ nghiệp còn gì nữa không.

Mịt mù một dải non sông,

Hỏi ai ai có đau lòng chăng ai”

Một thời từng rung động giới phụ lão và nhân sĩ Nam Kỳ. Tranh thủ được sự ủng hộ sức người, sức của mạnh mẽ của phương Nam Tổ quốc.

Nhưng tỏ rõ cái đẹp “bút mực tung hoành” của hùng văn hoành tráng, bi ca lâm ly mãnh liệt nhất trong văn Phan Bội Châu là các bài phú. Người xưa cho rằng “Phú giả phô dã”, phú là để phô bày. Nó có nhiều ưu thế trong việc phô bày tình cảm. Tính chất đối của văn biền ngẫu trong phú; chất thơ, chất tưởng tượng. Văn từ mỹ lệ trong phú quả là phù hợp với những áng văn bi hùng của Phan Bội Châu. Như bài phú rất nổi tiếng của Cụ: Bái thạch vi huynh. Đề bài này dựa vào điển tích: “Mễ Phái” (tức Mễ Nguyên Chương, Mễ thích hòn đá lạ bên sông. Bèn sai người mang về lỵ sở, trải chiếu lạy và nói: “Tôi mong được gặp Thạch huynh đã hơn 20 năm nay rồi”). Nội dung đề bài chỉ có vậy, không có liên quan gì với tư tưởng cao xa. Nhưng dưới ngọn hùng bút của Phan Bội Châu, điển tích được tận dụng theo hướng hùng mạnh hơn. Nhân đà, tác giả nói đến điển Nữ Oa luyện đá vá trời, nàng Tinh Vệ ngậm đá lấp biển. Phan Bội Châu đã viết bằng lời văn trau chuốt trở nên diễm lệ rực rỡ bằng bút pháp khoa trương. Âm điệu hùng hồn đặc biệt của thể phú. Văn là người, Cụ đã khoa trương, nhân hóa hết cỡ để nâng đá lên tầm vũ trụ:

“Đá nguyên khối nặng, hình vút từng không.

Cột chống lưng trời, nêu cương thường muôn thuở.

Tiếng vang mặt đất, dậy văn bút hai vùng”.

Con người phi thường nên tác giả cũng phải dùng những đơn vị phi thường (kỷ, hội, nguyên…) để hình dung:

“Quê đâu Bá Thị, cách đây mấy kỷ nửa nghìn năm.
Tuổi dậy trường xuân, có phải một nguyên 12 hội…”

Con người ở đây bên cạnh “cốt cách hiên ngang”, “phong tư kỳ lạ”, còn biết người biết ta. Hùng kiếm kết hợp với văn bút dậy trời, khác hẳn với con người ở thời Cần vương. Bài phú đã nâng Phan Bội Châu lên địa vị người “hay chữ nhất cả nước”. Như dư luận thời bấy giờ ngợi ca, làm chấn động đám khoa bảng ở kinh đô. Có tác dụng tập hợp những nhà Nho yêu nước. Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền đọc xong bài văn phải cảm động ngợi ca:

“Bài phú ai dậy tiếng tầng không
Khâm hoài lỗi lạc cũng như ông
Dời non, dốc biển chí bình nhật
Ngòi bứt tuôn ra như cầu vồng…”.

Ra nước ngoài, Phan Bội Châu viết Hải ngoại huyết thư (Lờị huyết lệ gửi về trong nước). Hải ngoại huyết thư là lá thư bằng máu viết theo thể phú. Tác giả đã “rỏ gan máu” dốc hết tinh thần vào đó:

“Lịch can huyết dĩ điều canh để thiên diệc giám,

Chú tình thần ư nhất tiễn kim thạch năng khai”.

(Rỏ gan máu để điều canh, trời soi xét;

Chú tinh thần vào mũi tên vàng đá cung vỡ loang).

Phan Bội Châu
Tác phẩm Hải Ngoại Huyết Thư – Phan Bội Châu

Cho nên, bài phú được trau vàng chuốt ngọc, trở nên một áng văn có sức sống, sức lay động nhất nước từ thuở ấy. Áng văn đã được Lê Đại chuyển thể, dịch thành thơ lục bát. Thể thơ dân tộc quen thuộc, một cách tài tình nên sức lay động càng được nhân lên, chinh phục nhiều tim óc con người hơn.

Với Phan Bội Châu, những áng văn bi hùng tập trung chủ yếu ở lục bát, song thất lục bát. Chẳng hạn ở tập tự thuật Ngục trung thư ta thấy có câu như: “Than ôi, phương giời chiếc bóng, mưa gió ngọn đèn, vét giọt nước mắt còn lại trong 20 năm nay của tôi, hòa lẫn với máu, lượm lặt lịch sử một đời của tôi mà viết ra đây. Hai mươi triệu đồng bào rất thân mến của tôi ơi, có biết cho lòng tôi chăng, cố oán trách gì tôi chăng? Đọc cuốn sách này của tôi chắc đồng bào còn thấy máu con cuốc đang tươi thắm đầm đìa trên mặt giấy vậy”.’

Giọng văn truyền cảm ấy là một đặc thù của thơ văn Phan Bội Châu. Cũng là một đặc thù của cá nhân Phan Bội Châu. Một người hào kiệt tự toát ra vẻ hấp dẫn, đầy sức chinh phục khó quên. Đúng như 1 chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đã diễn tả rất sinh động về Cụ Phan:

                    “Miệng giọng quốc vạch trời kêu giật một,

                     Giữa tầng không mù cuốn mây tan

Tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba,

Đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ”.

Sau Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Những tác phẩm của Phan Bội Châu cho thấy Cụ là người đã tận dụng một cách tài tình nhất thể văn biển ngẫu, phú. Trong tuyên truyền chính trị, cổ động quần chúng ở Việt Nam. Và viết bằng một bút pháp bi hùng linh động nhất, không gì có thể trộn lẫn được. Cho đến suốt thế kỷ XX này ở nước ta chọn được một lãnh tụ chính trị có giọng văn bốc lửa như Phan Bội Châu cũng không phải là dễ. Đó lại là cái mới.

Mới về đề tài: Tác phẩm Phan Bội Châu đã mở rộng hơn so với trước. Cụ là một trong những tác giả đầu tiên ở nước ta nói đến Lênin, đến chủ nghĩa xã hội và nước Nga…. Tác phẩm của Cụ có nhũng ý kiến sâu sắc về biển. Sống trong một nước quân chủ phong kiến, bao nhiêu đời bị bế quan tỏa cảng. Nay Phan Bội Châu băng mình vượt biển, mở mặt với năm châu bốn biển. Đến một nước duy tân là một đổi mới. Việc ra đi đó của Cụ chính là đoạn tuyệt với công danh phú quý. Với cái học khoa cử mà mình hằng đeo đuối. Đó là sự chuyển biến lớn, một cuộc cách mạng với bản thân, đã được Cụ diễn tả thành thơ:

“Giang sơn tử hĩ sinh như nhuế,

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”

(Non sông đã chết sống thêm nhục

Hiền thánh vời xa đọc uổng thôi.

Đông hải xông pha nương cánh gió,

Nghìn làn sống bạc tiễn ra khơi).

Ngày nay, châu Âu già cỗi, châu Á trẻ trung hơn vươn lên. Tầm mắt thế giới, nền văn minh đang dồn về châu Á – Thái Bình Dương (nhất là Đông Nam Á). Bởi Cụ là người thứ hai sau Bùi Viện có tầm mắt hướng ra Thái Bình Dương. Vượt biển đến một nước lớn trên biển mưu quyền lợi cho dân tộc. Mở đầu cho quan hệ Việt – Nhật tốt đẹp trong thời văn minh mới. Với việc trước tác công phu, hàng loạt cuốn sử đi vào chuyên môn như Việt Nam quốc sử khảo. Việt Nam vong quốc sử; với việc chú giải công phu Kinh Dịch, viết Khổng học đăng…. Cụ Phan đã tỏ rõ là một trong những lãnh tụ chính trị rất hiếm có ở thế kỷ này đi sâu vào học thuật.

Rõ ràng, Phan Bội Châu là hiện tượng đổi mới, đổi mới đường cách mạng, đổi mới về văn học và học thuật. Cụ từng: “Chúc phường hậu tử tiên mau”, đặt niềm tin tưởng vào hậu thế, vào tương lai, vào đổi mới như:

“Nếu may còn sống lại, thế giới nhân quyền như mặt trời đang đỏ bừng”.

“Đời đổi mới người càng thêm đổi mới”…

“Mới thế này là mới hỡi chư quân”

“Chữ rằng nhật nhật tân, hựu nhật tân”.

Chứng tỏ, Phan Bội Châu còn rất mới, vẫn thích hợp với thời đổi mới của chúng ta.

Hà Nội, Thu Đông năm 1997 Viết nhân dịp 57 năm mất và 130 năm sinh

của Cụ Phan Bôi Châu

Bài liên quan